Protocol là gì? Tổng hợp những kiến thức cần biết

Network ptotocol | Multicontents

Bất cứ mô hình, hệ thống nào đều cần phải có các hệ quy tắc để có thể hoạt động nhịp nhàng, suôn sẻ. Hệ thống mạng cũng vậy, phải có các giao thức (protocol) quy chuẩn mới có thể vận hành chính xác và giúp cuộc sống con người dễ dàng hơn mỗi ngày.

Network protocol là gì?

Network Protocol là tập hợp các quy tắc được thiết lập nhằm xác định cách để định dạng, truyền và nhận dữ liệu sao cho các thiết bị mạng máy tính – từ server và router tới endpoint – có thể giao tiếp với nhau, bất kể sự khác biệt về cơ sở hạ tầng, thiết kế hay các tiêu chuẩn cơ bản giữa chúng.

Để gửi và nhận thông tin thành công, các thiết bị ở cả hai phía của một trao đổi liên lạc phải chấp nhận và tuân theo các quy ước giao thức. Hỗ trợ cho các giao thức mạng có thể được tích hợp vào phần mềm, phần cứng hoặc cả hai.

Các giao thức mạng được tiêu chuẩn hóa cung cấp cho các thiết bị mạng một ngôn ngữ chung. Không có chúng, máy tính sẽ không biết phải giao tiếp với nhau như thế nào.

Kết quả là, trừ các mạng đặc biệt cho một kiến trúc cụ thể, chỉ có 1 số mạng có thể hoạt động và không có mạng internet như chúng ta biết ngày nay sẽ không thể tồn tại.

Giao thức mạng hoạt động như thế nào?

14 giao thức mạng phổ biến mà bạn nên biết - network protocol

Các giao thức mạng phân tách các quy trình lớn hơn thành các chức năng và nhiệm vụ nhỏ hơn, riêng biệt, trên tất cả các cấp độ mạng.

Một tập hợp các giao thức mạng kết nối với nhau thành bộ giao thức. Bộ TCP/IP bao gồm nhiều giao thức nằm trên các lớp – hoạt động cùng nhau để internet có thể kết nối được, bao gồm:

Transmission Control Protocol (TCP):

Giao thức điều khiển truyền vận – Transmission control Protocol (TCP) là một trong những giao thức cốt lõi của bộ giao thức TCP/IP. TCP cung cấp khả năng chuyển giao dữ liệu đáng tin cậy, theo thứ tự và được kiểm tra lỗi tới người nhận.

TCP cũng giúp các ứng dụng chạy trên máy chủ giao tiếp qua mạng IP có thể kết nối được với nhau, từ đó chúng có thể trao đổi dữ liệu hoặc các gói tin.

Các ứng dụng internet lớn như World Wide Web, email, và Secure Shell hiện nay đều đang sử dụng giao thức TCP

User Datagram Protocol (UDP)

Hoạt động như một giao thức giao tiếp thay thế cho TCP và được sử dụng để thiết lập các kết nối có độ trễ thấp và khả năng chịu lỗi mất thông tin giữa các ứng dụng và mạng Internet.

Internet Protocol (IP)

Sử dụng một bộ quy tắc để gửi và nhận tin nhắn, cho phép một thiết bị giao tiếp với các thiết bị khác qua mạng IP-based như Internet chẳng hạn.

Ngoài ra, còn có các giao thức mạng bổ sung khác như: Hypertext Transfer Protocol (HTTP) và File Transfer Protocol (FTP)…, mỗi giao thức định ra các bộ quy tắc để trao đổi và hiển thị thông tin.

Các loại giao thức mạng chính

Nói chung, các mạng có ba loại giao thức – giao tiếp, chẳng hạn như Ethernet; quản lý, chẳng hạn như Simple Mail Transfer Protocol (SMTP); và bảo mật, chẳng hạn như Secure Shell (SSH).

Tồn tại giữa ba loại giao thức lớn này là hàng ngàn giao thức mạng xử lý thống nhất nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, bao gồm xác thực, tự động hóa, sửa, nén, xử lý lỗi, truy xuất tệp, truyền tệp, tổng hợp liên kết, định tuyến, ngữ nghĩa, đồng bộ hóa và cú pháp.

Triển khai các giao thức mạng

Để các giao thức mạng hoạt động, chúng phải được code trong phần mềm, hoặc trong một phần của hệ điều hành (HĐH) máy tính, hoặc dưới dạng một ứng dụng, hoặc được triển khai trong phần cứng của máy tính. Hầu hết các HĐH hiện đại đều sở hữu các dịch vụ phần mềm tích hợp sẵn sàng thực hiện một số giao thức mạng.

Các ứng dụng khác, chẳng hạn như trình duyệt web, được thiết kế với các thư viện phần mềm hỗ trợ mọi giao thức cần thiết để ứng dụng hoạt động. Hơn nữa, TCP/IP và giao thức định tuyến hỗ trợ cũng được triển khai trực tiếp trong phần cứng để tăng cường hiệu suất.

Bất cứ khi nào một giao thức mới được triển khai, nó sẽ được thêm vào bộ giao thức. Các bộ giao thức có kết cấu như một khối đồng nhất vì tất cả các giao thức được lưu trữ trong cùng một địa chỉ và theo từng lớp xếp chồng lên nhau.

Điểm yếu của giao thức mạng

Một yếu điểm lớn được tìm thấy trong các giao thức mạng là chúng có thiết kế không bảo mật. Sự thiếu bảo vệ này đôi khi có thể tạo điều kiện cho các cuộc tấn công độc hại như nghe lén và cache poisoning, gây ảnh hưởng đến hệ thống.

Kiểu tấn công phổ biến nhất vào các giao thức mạng thường là broadcast attack trên các router giả lập, dẫn traffic vào các máy chủ bị tấn công thay vì các máy chủ đích (nơi lẽ ra sẽ nhận traffic).

Tính ứng dụng của các giao thức mạng

Các giao thức mạng là cơ sở để Internet hiện đại như chúng ta thấy ngày nay có thể hoạt động được vì chúng cho phép các máy tính giao tiếp qua các mạng mà không cần người dùng phải hiểu hoặc biết cụ thể về những gì đang xảy ra phía sau. Một số ví dụ cụ thể về giao thức mạng và cách sử dụng của chúng:

Post Office Protocol 3 (POP3), phiên bản mới nhất của giao thức chuẩn được sử dụng tải e-mail từ mail server.

Simple main transport Protocol (SMTP), được sử dụng để gửi và phân phối e-mail gửi đi.

File Transfer Protoco (FTP) – Giao thức truyền tệp, được sử dụng để truyền tệp từ máy này sang máy khác.

Xem thêm: Mô hình client-server
Like
Like Love Haha Wow Sad Angry

Bình luận

Bài viết liên quan